Dưỡng sinh theo y học cổ truyền

Dưỡng sinh còn gọi là nhiếp sinh, đạo sinh, bảo dưỡng – có nghĩa là bảo dưỡng sinh mệnh. Tuổi thọ của con người có kỳ hạn tương đối cố định, theo quy luật sinh mệnh: sinh, trưởng, tráng, lão. Tuy nhiên thông qua điều nhiếp bảo dưỡng có thể làm cho thể chất tăng cường, nâng cao khả năng thích ứng của chính khí với hoàn cảnh bên ngoài nhằm giảm thiểu hoặc tránh sự phát sinh bệnh tật, tạo trạng thái tốt nhất cả về tinh thần lẫn thể chất, âm dương điều hòa trong quá trình hoạt động sống của cơ thể, từ đó kéo dài tuổi thọ. Như vậy dưỡng sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng với việc đề phòng bệnh tật, nâng cao thể chất, kéo dài tuổi thọ.

IMG2682

1. Nguyên tắc cơ bản của dưỡng sinh.

1.1. Nguyên tắc thích ứng với tự nhiên:

“Con người với trời đất tương ứng”. Hoạt động sống của con người tuân theo quy luật khách quan của giới tự nhiên, bản thân con người có khả năng thích ứng với quy luật biến hóa chung của tự nhiên. Nắm vững những quy luật, chủ động thực hiện các biện pháp dưỡng sinh cho phù hợp thì sẽ tránh được bệnh tật, bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Sách Tố vấn – Tứ khí điều thần đại luận biên đề ra: “Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm là theo nguồn gốc của nó”. Nguyên tắc “thuận thời nhiếp dưỡng” là theo quy luật âm dương tiêu trưởng bốn mùa tiến hành dưỡng sinh giúp hoạt động sinh lý của cơ thể đồng bộ với chu kỳ biến đổi của tự nhiên, duy trì điều hòa thống nhất giữa cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài.

1.2. Chú trọng điều dưỡng tinh thần:

1.2.1. Tránh kích thích không lợi:

Tránh kích thích không lợi chủ yếu bao gồm hai nội dung. Một là cố gắng tránh kích thích không lợi từ bên ngoài ảnh hưởng đến cơ thể. Nghĩa là hoàn cảnh tự nhiên trong lành, hoàn cảnh xã hội tốt đẹp, không khí gia đình hòa thuận, hạnh phúc đều có tác dụng đến tinh thần. Vì vậy vừa tích cực tạo ra môi trường có lợi vừa cố gắng tránh những yếu tố có hại cho tinh thần. Hai là tích cực điều trị bệnh tật, phòng ngừa những kích thích bất lợi phát sinh từ bên trong cơ thể. Bản thân bệnh tật tạo thành những kích thích bất lợi khó chịu cho người bệnh. Những bệnh nặng hoặc bệnh lâu ngày dễ tạo cho người bệnh tinh thần không thoải mái. Kích thích từ bên trong cũng có thể tạo những biến đổi tình chí bất thường, làm bệnh nặng hơn, ảnh hưởng đến sự hồi phục sức khỏe hoặc quá trình lão hóa.

1.2.2. Tự nâng cao khả năng điều chỉnh tâm lý:

Những kích thích tình cảm quá mức kéo dài, khi vượt quá khả năng điều tiết tâm lý của con người mới trở thành nhân tố gây bệnh. Khả năng điều tiết tâm lý của người đầu tiên liên hệ mật thiết với “chí ý hòa”. Sách Linh khu – Bản tạng viết: “Chí ý hòa thì tinh thần luôn thoải mái, hồn phách không tán, không cáu gắt, ngũ tạng không dễ mắc tà bệnh”. Nói cụ thể “chí ý hòa” quan hệ mật thiết với khí chất, giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, văn hóa tư tưởng và tu dưỡng của từng cá thể trong cộng đồng, từ đó biểu hiện sự khác biệt của mỗi người trong tính chịu đựng, tính mẫn cảm cũng như sự phát sinh bệnh tình cảm. Vì vậy yêu cầu từng người thông qua hoạt động dưỡng sinh tự điều tiết tâm lý, thông qua quá trình nhận thức và hoạt động tư tưởng thay đổi thói quen tình cảm, loại trừ những kích thích bất lợi, duy trì hoàn cảnh tâm lý tốt đẹp.

1.2.3. Phòng sự có điều độ:

Quan hệ sinh hoạt giữa nam và nữ là bản năng thiên phú, cần thiết để duy trì giống nòi, vì vậy ở tuổi thanh niên tự nhiên hình thành ham muốn nhục dục. Đây là biểu hiện tinh khí trong thận sung thực. Sinh hoạt tình dục điều độ không những làm cho cơ thể khỏe mạnh mà còn duy trì sự phồn thịnh cho dân tộc, có ý nghĩa quan trọng với sự ổn định hòa thuận cho xã hội và gia đình. Vì vậy các thầy thuốc đều rất coi trọng giúp người bệnh điều chỉnh hoạt động này.

Từ trước đến nay người ta đều chủ trương nam nữ đến tuổi thì dựng vợ gả chồng. Điều đó cho thấy quan hệ sinh hoạt là cần thiết, thuận với tự nhiên. Nếu sau khi thành niên vẫn chưa có hoạt động giới tính thích hợp, không những không thỏa mãn về mặt sinh lý, lâu ngày có thể thành bệnh tật, mà ngay cả về mặt tâm lý do những ham muốn không được thỏa mãn, uẩn khúc không được giãi bày cũng dễ tạo nên chứng khí uất trệ. Trong các y văn cổ viết về bệnh của những quả phụ, đàn ông góa vợ thường do can mất sơ tiết nên dễ mắc các chứng bệnh liên quan đến rối loạn vận động của khí.

Do sinh hoạt tình dục gây hao tổn thận tinh nên cần thiết phải điều độ. Tinh khí trong thận là nguồn động lực cho hoạt động sống, là gốc rễ của âm dương toàn thân. Tiêu hao quá nhiều sẽ dẫn đến khuynh tổn làm chức năng giảm sút, toàn thân hư nhược, thậm chí sớm lão hóa. Sinh hoạt tình dục điều độ thì thận tinh sẽ được giữ gìn.

1.2.4. Chú ý rèn luyện thân thể:

Rèn luyện thân thể không chỉ làm lưu thông khí huyết, gân cốt cứng cáp, cơ nhục phát triển, chức năng tạng phủ tốt, tăng cường thể chất mà còn có thể dùng “động” giúp “tĩnh” – điều tiết hoạt động tinh thần tình chí của người, giúp cơ thể khỏe mạnh. Vì vậy vận động dưỡng sinh là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động dưỡng sinh.

Rèn luyện hình thể nói chung yêu cầu vận động với lượng thích hợp nhằm đến “cơ thể săn chắc nhưng không mệt mỏi”. Mặt khác còn yêu cầu nhịp nhàng tuần tự, kiên trì thì mới có thể thu được hiệu quả dưỡng sinh.

1.2.5. Điều hòa ngũ vị:

“Ăn uống điều hòa có thể trừ tà mà an tạng phủ, tình chí vui vẻ sảng khoái có thể bổ khí huyết” cho thấy con người rất chú trọng ăn uống để dưỡng sinh. Ăn uống bồi dưỡng cũng cần tuân theo những nguyên tắc nhất định.

– Những kiêng khem trong ăn uống: theo sách Kim quỹ yếu lược, “Thường đồ ăn thức uống có tác dụng bổ dưỡng, nhưng những thức ăn không tốt thì ngược lại chỉ gây hại… Những thứ tốt có lợi cho cơ thể, những thứ xấu sẽ gây bệnh, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng”. Điều đó cho thấy thức ăn có những điều nên và những điều kiêng, có thứ có lợi và có thứ có hại. Vì vậy kiêng khem trong ăn uống là nguyên tắc đầu tiên của ăn uống dưỡng sinh. Nói chung người thể chất thiên nhiệt nên ăn đồ mát, tránh đồ nóng; người thể chất thiên hàn cần ăn đồ ấm nóng, tránh đồ mát lạnh; người thể địa điều hòa tránh dùng các đồ ăn quá nóng, quá lạnh.

– Nên ăn đủ chất: cơ thể muốn tồn tại phải nhờ ăn uống, nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể rất đa dạng. Các thức ăn giàu chất dinh dưỡng có thể giúp cơ thể sinh trưởng phát dục thuận lợi, chống lão hóa, tránh các bệnh do thiếu dinh dưỡng gây ra. Muốn vậy trong khi ăn uống cần kết hợp các thức ăn theo nguyên tắc toàn diện, hợp lý, kết hợp với nhau nhằm đủ chất dinh dưỡng, thăng bằng âm dương. Sách Tố vấn – Tàng khí pháp thời luận biên viết: “Thuốc để chữa bệnh, ngũ cốc để nuôi dưỡng, ngũ quả để giúp đỡ, ngũ súc để giúp ích, ngũ rau để bổ sung, khí vị hợp lý có thể bổ ích tinh khí”. Đây là những yêu cầu tương đối toàn diện hợp lý kết hợp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

1.2.6. Ngăn ngừa bệnh tà xâm nhập:

Ngăn ngừa ngoại tà là nguyên tắc khá quan trọng trong dưỡng sinh học. Chủ yếu thể hiện trên ba mặt. Một là “tránh lúc phong tà thừa hư xâm nhập”. Hai là cần chú ý “tránh khí độc” nhằm ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm. Ba là dùng thuốc để dự phòng. Ngay từ rất sớm trong Tố vấn di biên – Thích pháp luận biên đã viết: “Tiểu kim đan… uống mười viên, không thể mắc bệnh dịch”. Hiện nay sử dụng nhiều loại vacxin đề phòng các bệnh truyền nhiễm phát sinh và lưu hành. Nội dung của nó hết sức phong phú tạo thành một khâu quan trọng trong dưỡng sinh phòng bệnh.

2. Những phương pháp dưỡng sinh chủ yếu.

Tuổi thọ của con người tương đối cố định, y học cổ truyền (YHCT) gọi là “tuổi trời”. Theo Tả truyện thì “tuổi trời” dao động từ 100-120 năm. Nói chung tuổi thọ bị hạn chế do kết quả của hai quá trình. Một là do sự thay đổi chức năng sinh lý liên quan chặt chẽ với thời gian. Mặt khác biến đổi bệnh lý do kích thích tinh thần hay thể chất gây ra. Y học cho rằng bẩm thụ tiên thiên, hoàn cảnh tự nhiên và nhân tố xã hội đều là yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ. Sự thịnh suy của tinh khí trong thận, trạng thái chức năng của tỳ vị là những mắt xích quan trọng trong cơ chế chống lão hóa và là những yếu tố bên trong ảnh hưởng đến tuổi thọ. Các phương pháp dưỡng sinh của YHCT đã được thực tiễn chứng minh có tác dụng đến dự phòng bệnh tật, bảo vệ cơ thể khỏe mạnh và làm chậm sự lão hóa. Theo sự tiến bộ của y học và sự phát triển xã hội, triển vọng tuổi thọ con người còn có thể kéo dài.

2.1. Theo thời nhiếp dưỡng:

Theo thời nhiếp dưỡng là phương pháp dưỡng sinh thuận theo khí hậu bốn mùa, quy luật biến đổi của âm dương, phối hợp điều hòa tinh thần, nghỉ ngơi, ăn uống, vận động.

Mùa xuân là mùa vạn vật sinh sôi phát triển, dương khí thăng phát, có lợi cho cơ thể hóa sinh tính khí huyết tân dịch, các hoạt động dưỡng sinh cần chú ý dưỡng dương để thúc đẩy sự chuyển hóa trao đổi của cơ thể. Ví dụ: về điều dưỡng tinh thần có thể tham gia hoạt động dã ngoại làm tinh thần sảng khoái, dương khí thoáng đạt, nên ngủ muộn dậy sớm, tuy nhiên đầu xuân nhiệt độ còn lạnh nên chú ý phòng ngoại cảm, ăn uống nên dùng thức ăn cay ngọt hơn ôn, cay ngọt phát tán giúp dương khí thăng phát, ôn để bảo vệ dương. Đồng thời có thể chọn những động tác rèn luyện nhẹ nhàng để dưỡng sinh nhằm có lợi cho lưu thông khí huyết.

Mùa hè là mùa vạn vật phồn thịnh, dương vượng, dương khí của cơ thể dễ phát tiết nên những hoạt động dưỡng sinh chú ý dưỡng dương. Điều dưỡng tinh thần yêu cầu làm tinh thần hòa hoãn, thư giãn giúp khí cơ tuyên thông, nên ngủ muộn dậy sớm, buổi trưa lúc nhiệt độ cơ thể cao nhất nên nghỉ ngơi tránh hỏa nhiệt làm mệt mỏi, nên ăn các thức ăn thanh đạm dễ tiêu hóa, tránh các thức ăn quá lạnh, chú ý bảo dưỡng dương khí, vận động vừa phải, nên bố trí công việc vào lúc sáng sớm hay chiều mát nhằm tránh nắng nóng, bổ sung nước và muối tiêu hao do mồ hôi ra nhiều đề phòng dương khí tân dịch bị hao tổn.

Mùa thu là mùa vạn vật thành thục, dương khí bắt đầu thu liễm, âm khí bắt đầu sinh trưởng. Các hoạt động dưỡng sinh cần chú ý thu liễm tinh khí, bảo tân dưỡng âm. Nên giữ tinh thần lạc quan, duy trì trạng thái tinh thần ổn định giúp thần khí thu liễm. Nên ngủ sớm dậy sớm, quần áo nên dựa vào đặc điểm khí hậu đầu thu hay cuối thu mà điều chỉnh. Mùa thu khô táo cần chú ý trong phòng có độ ẩm thích hợp, ăn uống cần tránh táo bảo vệ âm. Trong mùa thu, khi vận động chú ý tập động tác tĩnh là chủ yếu.

Mùa đông là mùa của vạn vật thu tàng, âm hàn cực thịnh, dương khí bế tàng. Hoạt động dưỡng sinh nên chú ý liễm dương hộ âm nhằm dưỡng tàng làm chính. Điều dưỡng tinh thần cần dùng các phương pháp điều thần phù hợp, tránh làm tinh thần quá khích, không quấy nhiễu dương. Nên ngủ sớm dậy muộn, chú ý mặc ấm. Nên ăn các đồ nóng nhằm hộ âm tiềm dương, không nên dùng nhiều các thức ăn táo nhiệt cay đắng để tránh hóa nhiệt thương âm. Việc luyện tập cần tùy theo từng người. Luyện tập buổi sớm cần chờ lúc có mặt trời, nên tránh luyện tập lúc trời mù không khí nhiều ô nhiễm.

2.2. Điều thần dưỡng sinh:

“Mất thần thì chết, còn thần thì sống” (theo Linh khu – Thiên niên) nên dưỡng sinh cần chú ý điều thần. Ngoài việc điều thần theo bốn mùa, cần chú ý ba vấn đề sau:

2.2.1. Tĩnh dưỡng tàng thần:

Sách Tố vấn – Tý luận biên viết: “Tĩnh thì thần tàng, động thì thần vong”. Sách Lão lão hằng ngôn còn trực tiếp chỉ ra: “Tĩnh dưỡng là việc đầu tiên của dưỡng sinh”. “Tĩnh” ở đây chỉ trạng thái tinh thần yên tĩnh thư thái vô tư quả dục. Quan trọng nhất của tĩnh dưỡng là tiết dục. Tiết dục là sự tiết chế tất cả các nhu cầu không chỉ đơn thuần là nhu cầu tình dục. Nếu như ham muốn danh vọng, vật dục quá mức hay tửu sắc không biết tự chế ước, phóng túng buông thả, hay ham muốn không được đáp ứng sinh cáu giận đều tổn thương chính khí mà đoản thọ. Như vậy yêu cầu rèn luyện không ham danh lợi, xem nhẹ thanh sắc, liêm khiết, thành thật, không nịnh nọt, không đố kỵ.

Đồng thời trong khi tĩnh dưỡng tàng thần, dưỡng sinh học không hề cực đoan bài trừ thuận theo nguyện vọng để dưỡng thần. Trong những hoàn cảnh có thể cần cố gắng đáp ứng những nhu cầu về ăn, ở, mặc để làm việc. Thiết tha tình yêu với cuộc sống và duy trì những thái độ lạc quan yêu đời là thái độ tích cực để tự nuôi dưỡng tinh thần.

Cơ chế của tĩnh dưỡng tàng thần đầu tiên liên quan đến đặc tính sinh lý của tâm. Sách Tố vấn – Tàng khí pháp thời luận viết: “Tâm vốn mềm yếu” chỉ tâm có đặc tính sinh lý yên tĩnh, thu liễm, điều hòa. Nếu tâm hỏa quá thịnh sẽ thành “táo cuồng nhiệt”, làm “mềm yếu” trở thành “cuồng loạn”. Tâm tĩnh thì thần an, thần an thì khí huyết tạng phủ điều hòa, tà khó xâm phạm, kéo dài tuổi thọ. Mặt khác tĩnh dưỡng còn quan hệ mật thiết với trạng thái chân khí của cơ thể. Tĩnh dưỡng tàng thần chân khí không bị tổn thương, tăng cường sức đề kháng, có lợi với phòng bệnh như sách Tố vấn – Thượng cổ thiên chân luận viết: “Điềm đạm hư vô chân khí được giữ gìn, tinh thần yên tĩnh không để mắc bệnh”.

2.2.2. Vận động để tinh thần sảng khoái:

Vận động bao gồm đi bộ, tập các phương pháp truyền thống. Vận động có thể làm khí huyết lưu thông, thư cân hoạt lạc, điều hòa chức năng tạng phủ, giúp tinh thần thoải mái. Ngoài ra vận động còn giúp ngủ tốt góp phần tĩnh thần. Đặc biệt khi người ta đến lúc tuổi cao, khí huyết tạng phủ hư nhược, chức năng giảm sút, tinh thần mệt mỏi thích ngồi, ưa nằm, ngủ không ngon, phản ứng chậm chạp, tính tình thay đổi… thông qua vận động hợp lý có thể làm tinh thần sảng khoái, tĩnh thần.

2.2.3. Điều chỉnh tính tình:

Là chỉ sự di chuyển thay đổi cách nghĩ, hướng nghĩ sang sự việc khác, phương hướng khác. Hoặc thay đổi tâm tính, loại trừ những nhận thức sai, những định kiến, những thói quen không tốt…

Có nhiều phương pháp để thay đổi điều chỉnh tính tình. Ví như thường xuyên thưởng thức âm nhạc, xem văn nghệ, khiêu vũ, đọc sách, làm thơ, trồng hoa, nuôi chim cảnh… tạo những thú vui tao nhã nhằm bồi dưỡng hứng thú, tình yêu cuộc sống, trừ bỏ những phiền toái sẽ có tác dụng tốt tới tâm thần. Trừ những người gặp phải hoàn cảnh quá khó khăn không thể tránh khỏi, còn nếu tùy theo tố chất, cá tính, sở thích, hoàn cảnh và điều kiện có thể tham gia một vài hoạt động, có thể tự mình giải thoát, điều chỉnh tính tình có tác dụng tốt với việc kháng và phòng lão hóa.

2.3. Bảo vệ tinh dưỡng sinh:

YHCT gọi quan hệ sinh hoạt nam nữ là “phòng sự”. Phòng sự đúng mức giúp vợ chồng hòa thuận, xã hội ổn định, giống nòi được duy trì và bản thân cũng khỏe mạnh. Cần chú ý hai điểm sau đây:

2.3.1. Tiết dục:

Tiết dục là chỉ ngay cả khi nhu cầu cao cũng nên chế tiết, không nên quá mức để phòng thận tinh quá hao dẫn đến hư tổn. Nói chung từ tuổi dậy thì đã xuất hiện nhu cầu, đến tuổi thanh niên nhu cầu ngày càng cao, duy trì trong một thời gian dài. Đến tuổi trung niên nhu cầu giảm dần. Đến tuổi lão thì dần dần mất đi. Như vậy lúc nhu cầu cao thận khí thịnh vượng, nếu lúc đó biết chế tiết giúp cho thận tinh luôn duy trì ở trạng thái xung thịnh rất có lợi cho thể lực, trí tuệ, sức đề kháng và còn làm chậm cả quá trình lão hóa. Nếu thận tinh giảm sút nên tránh quan hệ, vì càng làm thận tinh hư hao nhiều hơn, không những gây khả năng tình dục giảm sút mà còn làm quá trình lão hóa đến sớm hơn.

2.3.2. Chú ý vệ sinh:

Phòng sự nên tiến hành lúc yên tĩnh, cơ thể khỏe mạnh và tinh thần thoải mái. Nếu khí hậu, hoàn cảnh không tốt, tinh thần căng thẳng không nên tiến hành phòng sự. Phụ nữ khi hành kinh hay sau đẻ huyết dư vẫn chưa sạch không nên giao hợp. Cả nam lẫn nữ khi đang bị bệnh đều không nên phòng sự. Trước khi giao hợp cần giữ gìn vệ sinh tránh lây lan các bệnh truyền nhiễm, da liễu.

2.4. Ăn uống dưỡng sinh:

Nội dung ăn uống để dưỡng sinh rất nhiều, bao gồm các mục vệ sinh thực phẩm, phối hợp thức ăn, gia công chế biến, loại thức ăn, cách thức và thời gian ăn uống, dùng thuốc kết hợp…

2.4.1. Chú ý vệ sinh thức ăn:

Nội dung vệ sinh thực phẩm rất phong phú. Một là không dùng thực phẩm không sạch. Gia súc, tôm cá và một số loại rau mọc dưới nước có thể là vật chủ của một số loại ký sinh trùng. Thực phẩm trong quá trình chế biến, cất giữ, vận chuyển cũng có thể bị lây nhiễm trứng, bào nang và một số vi sinh vật, thậm chí có thể bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, các thuốc dùng trong nông nghiệp, thú y… Nếu dùng các loại thực phẩm này có thể dẫn đến bệnh tiêu hóa, truyền nhiễm, ngộ độc… Mặt khác cũng không nên dùng các thức ăn quá hạn, súc vật gia cầm bị chết do dịch bệnh để tránh “trúng độc thức ăn” (theo Giả bệnh nguyên hậu luận).

2.4.2. Ăn uống nên điều độ:

Nên xây dựng thói quen ăn uống tốt, hợp lý đúng giờ với số lượng vừa phải, không nên để quá đói hay quá no thất thường. “Ăn uống đúng giờ có thể không bị bệnh” (theo Lữ thị xuân thu – Trì số). Lượng thức ăn nên tùy theo mỗi người. Nếu ăn quá no hay quá đói đều dễ gây thực trệ tổn thương chức năng vị tràng hoặc có thể gây các bệnh khác. Nếu để đói lâu ngày làm tạng phủ và cơ thể không được nuôi dưỡng, chính khí ngày càng hư, tạo điều kiện cho ngoại tà xâm phạm.

2.4.3. Khắc phục thói quen nghiện một loại thức ăn:

Khắc phục thói quen này nhằm điều hòa ngũ vị là nội dung quan trọng của dưỡng sinh, nó phản ánh ăn uống để dưỡng sinh cần điều hòa hợp lý chất dinh dưỡng. Khắc phục thói quen chỉ thích ăn một loại thức ăn gồm hai mặt. Một là khắc phục thích ăn thức ăn thiên hàn hoặc thiên nhiệt. Ăn nhiều thức ăn sống lạnh dễ tổn thương dương khí tỳ vị. Ăn các thức ăn ôn táo nhiệt kéo dài làm vị tràng tích nhiệt hay làm trĩ nặng hơn. Vì vậy yêu cầu thức ăn phù hợp không cay nóng, không sống lạnh. Mặt khác cần khắc phục thói quen chỉ thích ăn một vị nào đó. Ngũ vị dưỡng tạng, nếu chỉ thích ăn một loại thức ăn nào đó sẽ làm khí của tạng thiên thắng, chức năng của nó sẽ rối loạn hoặc hình thành bệnh “cao lương” đồng thời làm cơ thể thiếu các chất dinh dưỡng khác, dễ phát sinh bệnh tật. Sách Bảo sinh yếu lục – Luận ẩm thực môn chỉ ra: “Thức ăn dù ngon cũng không nên quá nghiện, nghiện sẽ gây tổn thương thành bệnh. Vị dù ghét cũng không thể không ăn, không ăn thì khí tạng sẽ thiếu”.

2.4.4. Thức ăn kết hợp với thuốc để bảo vệ cơ thể:

Dưới sự chỉ đạo của lý luận y học kết hợp thức ăn với thuốc (dùng để bổ sung hay điều hòa) với nhau, thông qua chế biến nấu nướng tạo thành các món ăn có tác dụng phòng bệnh hoặc làm cơ thể khỏe mạnh. Các thuốc dùng để phối hợp thường là: nhân sâm, hoàng kỳ, hoàng tinh, kỷ tử, đông trùng hạ thảo, hà thủ ô, phục linh, tang thầm, chi ma, hồ đào nhân, mật ong, hạt sen, thịt dê, cá… Thuốc với thức ăn thông qua chế biến, thông qua “y thực trị” có tác dụng làm cơ thể khỏe mạnh, chống lão hóa.

2.5. Tập luyện dưỡng sinh:

Các phương pháp tập luyện dưỡng sinh theo YHCT rất phong phú, ví dụ: thái cực quyền, dịch cân kinh, bát đoạn gấm, các loại khí công, võ thuật. Có loại lấy động làm chính, vận động toàn thân nhằm các cơ khớp toàn thân đều được tập luyện tích cực, giúp cân mạch thông suốt, khí huyết điều hòa, các hệ thống chức năng đều được huy động, từ đó cơ thể khỏe mạnh trường thọ. Có loại lấy tĩnh làm chính, chủ động luyện “ý, khí, hình”, nhấn mạnh rèn luyện tinh thần, từ đó phát huy tác dụng bảo vệ cơ thể chống lão hóa.

Khí công là phương pháp dưỡng sinh tương đối đặc sắc và phổ cập. Khí công còn gọi là “đạo dẫn”, “thổ nạp” – thông qua tự điều chỉnh để luyện ý, luyện khí, luyện hình theo phương pháp tự rèn luyện là chính.

Theo thời gian, khí công lưu truyền, phổ cập và phát triển tạo thành nhiều trường phái, nhiều phương pháp khác nhau. Nói chung có thể chia làm hai loại do người khác đạo dẫn và tự mình đạo dẫn. Do người khác đạo dẫn là một loại đặc dị công năng do người khác phát khí để điều trị bệnh. Tự đạo dẫn lại có thể phân thành hai loại động công và tĩnh công. Thả lỏng công, bất động công, nội dưỡng công… đều thuộc loại tĩnh công. Đại nhan công, hạc lược công đều lấy động làm chủ nên thuộc loại động công.

Về nguyên lý của khí công dưỡng sinh thường lấy “khí luận” và “học thuyết kinh lạc” làm cơ sở lý luận, lấy luyện tập “ba yếu tố” làm trọng điểm để xem xét cơ chế khí công rèn luyện cơ thể chống lão hóa. Luyện tập “ba yếu tố” là luyện ý (điều thần), luyện khí (điều khí), luyện hình (điều thân). Ví dụ trong yêu cầu của phương pháp luyện nội dưỡng sinh thì luyện ý tức là đưa cơ thể vào trạng thái “nhập tĩnh”. Làm cho ý tập trung vào một vị trí nhất định (như “đan điền”, “hội âm” hay một huyệt nào đó) loại trừ những suy nghĩ khác tập trung tư tưởng luyện tập. Luyện khí chủ yếu điều chỉnh nhịp thở để điều chỉnh hô hấp nhằm đạt đến mức độ thở nhẹ sâu kéo dài. Luyện hình chủ yếu rèn luyện cơ thể có thể chịu đựng dễ dàng ở các tư thế nhất định nào đó. Đồng thời thả lỏng toàn thân, thở tự nhiên. Trong quá trình luyện công chú ý điều chỉnh phối hợp luyện ý, luyện khí, luyện hình làm cho ý dẫn khí chạy khắp thân. Tập động công cũng yêu cầu ý làm cho cơ thể vận động theo ý, động tác phối hợp chặt chẽ với hô hấp làm hình khí tương đắc với nhau.

Thực tiễn chứng minh duy trì tập luyện khí công đúng phương pháp có thể tạo những ảnh hưởng tốt đối với cơ thể, tăng cường sức khỏe chống lão hóa. Đồng thời còn có tác dụng điều trị một số bệnh nhất định, có lợi cho việc nhanh chóng phục hồi sức khỏe cho người bệnh.

Cho dù chưa hoàn toàn thống nhất về tác dụng, cơ chế, phương pháp tập giữa các trường phái khí công, thậm chí còn bị che đậy bởi lớp sương mù thần bí nhưng hiệu quả thực tế của khí công dưỡng sinh, những nghiên cứu tương đối khoa học mới đây về khí công đã chứng minh thuật khí công dưỡng sinh là một môn khoa học và là viên ngọc quý trong di sản văn hóa phương Đông.

2.6. Dùng thuốc dưỡng sinh:

Lúc cao tuổi những biến đổi lão suy làm người già phản ứng với bệnh tật yếu, tính mẫn cảm giảm thấp, tiến trình tự nhiên của biến hóa lão suy dễ lẫn với quá trình bệnh, từ đó xuất hiện nhiều bệnh đồng thời với các chứng hậu của hư suy. YHCT cho rằng sự suy giảm của tinh khí trong thận với sự bất túc của tỳ vị khí là cơ chế chủ yếu của lão suy. Vì vậy bổ ích chính khí là nguyên tắc cơ bản của dùng thuốc dưỡng sinh, điều bổ tỳ thận là khâu quan trọng của dùng thuốc dưỡng sinh. Xét từ các bài thuốc ích thọ bảo vệ sức khỏe chống lão suy như “Thủ ô diên thọ đan”, “Diên niên phục linh ẩm”, “Diên linh cơ bản đan”… chủ yếu đều bổ ích hai tạng tỳ và thận. Nhưng do cơ thể là một chỉnh thể hữu cơ, lão hóa là quá trình biến đổi có tính tổng hợp, vì vậy giữa lão hóa và các tạng khác có quan hệ mật thiết với nhau cũng cần chú ý đến.

Thực tiễn cho thấy những thuốc có tác dụng bổ dưỡng tuy thường dùng trong các chứng bệnh hư tổn hay sau quá trình bệnh nhưng nếu dùng một cách phù hợp, uống kiên trì cũng có tác dụng chống lão hóa, giúp cơ thể khỏe mạnh.

2.7. Xoa bóp, châm cứu dưỡng sinh:

Xoa bóp là thông qua các động tác đẩy, nắm, ấn, vê, day, xoa, sát, đấm… tác động đến một vị trí nào đó của cơ thể nhằm điều chỉnh tình trạng sinh lý hay bệnh lý giúp điều trị hay làm cơ thể khỏe mạnh.

Cơ chế tác dụng của xoa bóp chủ yếu làm thay đổi hệ thống chức năng, điều chỉnh thần kinh thực vật và điều chỉnh những bất thường về giải phẫu. Nó không chỉ là biện pháp chủ yếu hoặc giúp điều trị một số bệnh nào đó mà trên mặt dưỡng sinh tự xoa bóp hay nhờ người khác xoa bóp được vận dụng tương đối rộng rãi.

Châm cứu bao gồm hàn châm (với các phương pháp châm tam lăng, châm dưới da, mai hoa châm, nhĩ châm, điện châm) và cứu. Cơ chế tác dụng của châm cứu dưỡng sinh cơ bản là thông qua kích thích lên tác dụng đặc biệt của các huyệt, sự dẫn truyền của hệ thống kinh lạc mà điều chỉnh thăng bằng các chức năng giúp điều trị và làm cơ thể khỏe mạnh. Châm cứu còn kích thích tiết các chất endomorphin có tác dụng làm giảm đau, an thần. Mặt khác sự tiếp nhận các tín hiệu do châm cứu tác động có tác dụng điều tiết hồi phục hay tăng cường các phản xạ ngược giữa các hệ thống bên trong cơ thể, từ đó đạt đến mục đích phù chính trục tà, điều trị bệnh…

Cơ chế tác dụng của phương pháp cứu là lợi dụng hiệu ứng vật lý của “hỏa” tác động lên huyệt để vận hành khí huyết nhằm tiêu sưng hóa ứ, tán hàn, giảm đau, đồng thời bổ tỳ thận, tăng cường khả năng chống tà phòng bệnh của chính khí, nâng cao chức năng miễn dịch, từ đó phát huy tác dụng điều trị dự phòng bệnh và bảo vệ cơ thể.

Xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh vận dụng nguyên tắc biện chứng tiến hành kỹ thuật thường dùng trên lâm sàng.

TS. Đặng Quốc Khánh – Cục Quân y

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 7.0/10 (3 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)
Dưỡng sinh theo y học cổ truyền, 7.0 out of 10 based on 3 ratings
Tags: ,

Cùng danh mục